Tin tổng hợp

CHIẾN LƯỢC CIFPEN 2011-2015
Thứ Tư, 30/12/2015

BỐI CẢNH RÀ SOÁT CHIẾN LƯỢC
Chiến lược và Kế hoạch hoạt động 5 năm của CIFPEN (2011-2015) được xây dựng vào cuối giai đoạn thứ nhất của kế hoạch chiến lược 2006-2010, vào cuối năm 2010 với sự tham gia của các đơn vị thành viên mạng lưới. Để rà soát và xây dựng Chiến lược,  kế họach họat động 5 năm, nhóm tư vấn đã kết hợp phân tích Điểm mạnh, Điểm Yếu, Cơ hội và Thách thức (SWOT), nghiên cứu các tài liệu phản ánh thành tựu của Mạng CIFPEN, báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện kế hoạch hoạt động, tổ chức các hội thảo rà soát và xây dựng chiến lược và kế họach hoạt động; trong suốt quá trình đó luôn luôn chú ý đến nhu cầu và khả năng thực tế của chính các tổ chức thành viên.
BĐH mạng CIFPEN và nhóm chuyên gia sọan thảo xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, những ý kiến và góp ý của các tổ chức thành viên, Ban cố vấn, cán bộ chuyên trách của AAV, đặc biệt  cảm ơn sự tài trợ của EC/AAV và một phần của VECO Việt Nam để xây dựng, tham vấn và hoàn thiện chiến lược này.
Nhóm chuyên gia đã rà soát những tiến bộ trong 5 năm qua và xem xét về bối cảnh. Sứ mệnh, Tầm nhìn, Mục tiêu tổng quát và nguyên tắc của CIFPEN đã được đánh giá và xác nhận là vẫn còn phù hợp.
Cụ thể rõ ràng trong giai đoạn tiếp theo chúng ta sẽ thấy những thách thức vẫn tiếp diễn đối với các nhóm đối tượng của CIFPEN, như nông dân nghèo, đặc biệt những áp lực từ thắt chặt điều kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), biến đổi khí hậu và tăng cường đô thị hóa. Điều này khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục giải quyết các nhu cầu của nông dân nghèo.
Đã có những thành công thực sự trong việc tăng cường năng lực cho tổ chức thành viên nhưng vẫn cần tiếp tục đối với những tổ chức thành viên mới thành lập và hoạt động chưa hiệu quả. Có thể nhìn thấy điều đó như những cơ hội trong việc xây dựng chuyên môn trong các tổ chức thành viên sao cho có thể chia sẻ tốt hơn trong mạng lưới và sử dụng bởi mạng lưới trong các hoạt động chia sẻ. Xây dựng năng lực và chuyên môn đã là một thành công đáng chú ý nhưng có thể xây dựng hơn nữa, nhưng vận động chính sách chưa được thực hiện tốt và mặc dù một số hoạt động chia sẻ kinh nghiệm đã rất thành công, ví dụ ấn phẩm giới thiệu các mô hình, một số chuyến thăm quan trao đổi và các hội thảo về đăng ký quyền sử dụng đất, hoặc có thể làm nhiều việc hơn nữa. Vì vậy, một kiến nghị rõ ràng là có thể làm nhiều việc hơn nhằm tuyên truyền các bài học kinh nghiệm và ảnh hướng chính sách tại địa phương và quốc gia. (Chi tiết xem trong Phụ lục 2).

I. SỨ MỆNH
Góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực, giảm nghèo bằng cách tăng cường vai trò của xã hội dân sự thông qua liên kết và nâng cao năng lực cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này.

II. TẦM NHÌN
CIFPEN hướng tới một Việt Nam có nền nông nghiệp bền vững, anh ninh lương thực được đảm bảo và không còn nông dân đói nghèo; Mạng CIFPEN có cơ cấu tổ chức vững mạnh và là mạng lưới  thông qua đó các tổ chức Xã hội Dân sự có vai trò quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực và giảm nghèo ở Việt Nam.

III. MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG CỦA CIFPEN
• Tăng cường năng lực và phối hợp giữa các tổ chức thành viên và các tổ chức dựa vào cộng đồng nhằm cung cấp tốt hơn các dịch vụ của mình cho người nghèo và những nhóm người thiệt thòi để giảm nghèo và an ninh lương thực cấp hộ gia đình;
• Chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi thông tin giữa các tổ chức thành viên CIFPEN, các mạng lưới  xã hội dân sự khác và các cơ quan chức năng của chính phủ Việt Nam về các vấn đề liên quan đến an ninh lương thực và giảm nghèo;
• Thúc đẩy đàm thoại với cơ quan chính phủ để đưa tiếng nói và mối quan tâm của người nghèo và những người bị thiệt thòi tới các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan chính phủ, đóng góp vào việc xây dựng và thực thi chính sách liên quan đến an ninh lương thực và giảm nghèo.

IV. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA CIFPEN
• Tất cả các hoạt động thực hiện đều tuân thủ theo luật pháp hiện hành của Việt Nam;
• Các hoạt động của CIFPEN dựa vào nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, đồng thuận với tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.
• CIFPEN hoan nghênh sự tham gia của các tổ chức dân sự ở Việt Nam vì mục đích giảm nghèo và an ninh lương thực, và mong muốn hợp tác với các tổ chức khác trong và ngoài nước.

V. HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI
1. Sơ đồ tổ chức

 

 2. Rà soát các tiểu ban
Sau khi xem xét tình hình mới và họat động của các tiểu ban chuyên môn đã đề xuất thay đổi thành 3 tiểu ban chuyên môn như sau:
- Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và biến đổi khí hậu
- Giới, Gia đình và Sức khỏe cộng đồng
- Sinh kế bền vững và tiếp cận thị trường
Các tiểu ban chuyên môn sẽ họat động như sau:
• Mỗi đơn vị có thể cử người tham gia 1-3 tiểu ban tùy theo tổ chức đó có hoạt động thuộc phạm vi hoạt động của các tiểu ban.
• Việc phân công người phụ trách tiểu ban trước mắt sẽ do Ban điều hành quyết định, sau đó  sẽ được các tiểu ban bầu
• Các tiểu ban chuyên môn có các chức năng chính sau đây:
- Chức năng tổng kết, đánh giá các hoạt động/ kết quả từ các hoạt động của các tổ chức thành viên để đưa vào Báo cáo thường niên của CIFPEN.
- Chức năng tư vấn/ tham vấn: Trong các hoạt động chuyên môn liên quan đến lĩnh vực của các tiểu ban, các tiêu ban có trách nhiệm tham vấn để các hoạt động có kết quả cao nhất có thể.
- Thực hiện những họat động cần thiết để xây dựng năng lực cho các tổ chức thành viên có kỹ năng và năng lực để đạt được những mục tiêu của CIFPEN trong lĩnh vực họat động và hợp tác với Ban điều hành;
- Thực hiện những họat động để tập hợp những thực hành tốt và phổ biến trong và ngoài mạng CIFPEN, theo mục tiêu và cùng với Ban điều hành.  
Ban đầu mỗi tiểu ban chuyên môn sẽ có trách nhiệm cụ thể trong việc đề xuất phần tiếp theo của chiến lược như sau:
- Đề xuất họat động cho từng tiểu ban;
- Xây dựng họat động chi tiết có ưu tiên và thời gian dự kiến.
- Dự thảo nội dung trong chiến lược về nội dung họat động của các tiểu ban chuyên môn trong thời gian 5 năm tới. 
Ngay từ khi mới bắt đầu, việc họat động cùng nhau là một kinh nghiệm, nhưng việc hợp tác hiện nay có tính chất tự nhiên hơn và việc hợp tác thực hiện dự án cũng tự nhiên hơn. Nhưng vẫn còn vấn đề về kinh phí để hợp tác và những việc chưa có kinh nghiệm tương tự trong họat động vận động chính sách, một vài nhóm còn thiếu tự tin trong khả năng vận động chính sách ở địa phương.
Qua  rà sóat và nghiên cứu nêu bật những điểm mạnh và điểm yếu chính. 
3. Vận động chính sách Phản ánh tiếng nói và mối quan tâm của người nghèo
Vận động chính sách và phản ánh tiếng nói của người nghèo và các tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs):
Đây là một trong những mục tiêu của CIFPEN và là mối cam kết của các thành viên song hiện đang là một thánh thức lớn đối với các tổ chức mới thành lập, khi mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức này là vấn đề tự huy động nguồn tài chính để đảm bảo sự tồn tại sống còn của tổ chức. Nhiều hoạt động xây dựng năng lực cho các tổ chức cộng đồng, đóng góp ý kiến xây dựng chính sách và vận động chính sách đã được thực hiện song chủ yếu ở các tổ chức đã được thành lập từ lâu, có nguồn kinh phí cho hoạt động thường nhật và có nguồn tài trợ từ các dự án phát triển. Ngoài ra, năng lực và kỹ năng phân tích, phản hồi và vận động chính sách và các kỹ năng vận hành các dự án phát triển khác của nhiều tổ chức thành viên của CIFPEN vẫn còn hạn chế. Đây là ưu tiên chính của giai đọan sau.
4. Đội ngũ chuyên gia
Hầu hết các tổ chức thành viên của CIFPEN đều đặc trưng bởi một đội ngũ chuyên gia đầu ngành xuất sắc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, y tế, sức khoẻ, và có hiểu biết sâu sắc về các cộng đồng người nghèo, dân tộc thiểu số và các nhóm còn gặp nhiều khó khăn khác trong khắp các vùng nông thôn, thành thị, miền núi và miền xuôi trong cả 3 miền Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Chính đặc trưng này đã mang lại những đóng góp to lớn của các tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam trong thập kỷ vừa qua vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các hoạt động chuyển giao kỹ thuật và công nghệ mới cho người dân, đặc biệt là người nghèo và đồng bào các dân tộc thiểu số
Đây là một điểm mạnh và CIFPEN  hy vọng bằng cách tập trung vào mục tiêu tư vấn cụ thể trong các tiểu nhóm chuyên môn và báo cáo cam kết để tạo nên thậm chí nhiều hơn thế trong giai đọan tiếp theo.

VI. CÁC  MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN 2011-2015
Để mạng lưới có thể phát triển như dự định, sau đây là các mục tiêu và tiểu mục tiêu cho giai đoạn 2011-2016 mà căn cứ vào đó có thể xây dựng kế hoạch hoạt động:
1. Thúc đẩy các hoạt động vận động chính sách dựa vào cộng đồng:
1.1. Nâng cao năng lực về vận động chính sách cho các tổ chức thành viên để vận động chính sách ở cấp địa phương và hình thành nhóm chuyên gia vận động chính sách;   
1.2. Thúc đẩy việc ban hành các tiêu chí về nông nghiệp bền vững và hộ sản xuất quy mô nhỏ
1.3. Tư vấn, phẩn biện và thực hiện giám sát tác động của tiêu chí mới để phân loại hộ nghèo và những chính sách hỗ trợ cho người nghèo do nhà nước ban hành; và phản hồi chính sách;
1.4. Thúc đẩy việc giao quyền sử dụng đất đối với đất không sử dụng ở những vùng nghèo;
1.5. Hỗ trợ việc hoàn thiện các chính sách phát triển sinh kế bền vững cho người tái định cư.
1.6.Cải thiện chính sách và cách tiếp cận trong việc hỗ trợ người nghèo, đặc biệt là thông qua các chương trình lớn của chính phủ.(Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chương trình 135-III, chương trình 30a...) qua đó giúp cho Pháp lệnh Dân chủ cơ sở thực hiện hiệu quả với sự tham gia của các bên liên quan.
1.7.Thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp và rủi ro sản xuất cho người nghèo
Đặc điểm của cách tiếp cận này là sẽ hỗ trợ và thúc đẩy các bên liên quan để thương lượng tại địa phương cũng như để củng cố chính quyền địa phương được minh bạch và là cầu nối giữa hai bên thông qua hỗ trợ việc đệ trình những nhu cầu của cộng đồng tới các cơ quan lập pháp và hành pháp.
2. Hỗ trợ nông dân thực hiện các giải pháp canh tác nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH:
2.1. Hỗ trợ nông dân thực hiện các giải pháp nông nghiệp bền vững để giảm thiểu tác động của BĐKH;
2.2. Hỗ trợ nông dân và cộng đồng thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH;
2.3. Tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên để vận động chính sách nhằm thay đổi để tạo sự chuẩn bị tốt hơn tại địa phương đối với biến đổi khí hậu.            
CIFPEN sẽ tập trung và sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ và người nghèo. Kinh nghiệm của CIFPEN cho thấy việc thích ứng với tất cả các thiên tai tự nhiên phụ thuộc vào các kỹ năng của cá nhân và mỗi cộng đồng nhỏ, việc giảm thiểu BĐKH cần phải được bắt đầu từ những hành vi cụ thể trong sản xuất và đời sống. Do đó, CIFPEN quan tâm nhất tới vấn đề bảo vệ đất, nước và những khía cạnh khác của môi trường, trong mọi phương pháp canh tác và tới mỗi người và gia đình trong cộng đồng nhỏ. 
3.  Thúc đẩy các giải pháp nông nghiệp bền vững cho các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ:
3.1.  Thúc đẩy bảo tồn và phát triển các giống cây trồng và vật nuôi bản địa để bảo tồn đa dạng sinh học và sản xuất nông đặc sản hàng hóa quy mô nhỏ.
3.2. Hỗ trợ phát triển nông nghiệp phi truyền thống
3.3. Liên kết nông dân sản xuất quy mô nhỏ với thị trường
3.4. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch
3.5. Trợ giúp nông dân thực hiện các giải pháp bảo vệ và nâng cao chất lượng đất canh tác;
3.6. Tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên để vận động chính sách nhằm thay đổi để thúc đẩy các giải pháp nông nghiệp bền vững ở địa phương.
Trong khi tập trung vào các mục tiêu (2 và 3) nêu trên, điểm chính của CIFPEN sẽ vẫn là  tăng cường sự tham gia của người nông dân và cộng đồng trong các hoạt động phát triển và đồng thời, tăng cường khả năng của chính quyền địa phương để cung cấp tính minh bạch và giải trình trong các Chương trình phát triển ở địa phương, thực hiện Pháp lện Dân chủ cơ sở với các cơ chế phù hợp và hiệu quả.
CIFPEN đặc biệt quan tâm tới những người tái định cư do các nguyên nhân đô thị hóa hoặc các dự án đập thủy điện. CIFPEN nhận thức được rằng rất khó để tìm sinh kế thay thế. CIFPEN sẽ tập trung vào hỗ trợ các hoạt động phi nông nghiệp và nông nghiệp phi truyền thống (ví dụ nhưng trồng nấm, nuôi giun, dế, giống cây trồng bản địa)
CIFPEN tin tưởng rằng sản xuất quy mô nhỏ sẽ vẫn quan trọng đặc biệt là đối với người nghèo kinh niên và tin tưởng vào tính khả thi của việc liên kết người nông dân với thị trường và thúc đẩy tiêu thụ.
Những mục tiêu xuyên suốt khác:
4. Nâng cao năng lực và tăng cường Học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm có sự tham gia:
4.1. Nâng cao năng lực quản trị và phát triển tổ chức thành viên (đối với những thành viên mới và ít kinh nghiệm)
4.2. Liên kết với các cơ quan, tổ chức và mạng lưới khác để thực hiện các hoạt động và công việc cụ thể để tạo ra giá trị thực tế trong vấn đề ANLT và giảm nghèo
4.3. Kết nối với các mạng lưới khác, cơ quan nhà nước và các NGO Việt nam để phát triển và hợp tác với họ, áp dụng bài học kinh nghiệm
4.4. Sử dụng website, các quan hệ báo chí, tạp chí, liên kết với Mạng An ninh lương thực quốc tế (IFSN)
4.5. Khám phá và ứng dụng những cách tiếp cận mới trong vấn đề ANLT và giảm nghèo
5. Xây dựng đội ngũ chuyên gia:
Mục tiêu: Xây dựng nhóm chuyên gia cho mỗi lĩnh vực của tiểu ban chuyên môn:
• Tài nguyên thiên nhiên, Môi trường và Biến đổi khí hậu
• Giới, Gia đình và Sức khỏe cộng đồng
• Sinh kế bền vững và Tiếp cận thị trường
CIFPEN sẽ đào tạo các nhóm chuyên gia để sử dụng phương pháp học và hành động có sự tham gia.
6. Tăng cường về tài chính cho CIFPEN và các thành viên:
Mục tiêu: Đưa ra cơ chế để tạo điều kiện sử dụng như:
a. Các tổ chức thành viên đóng góp theo quy định;
b. Hợp đồng dịch vụ và tư vấn từ các chương trình dự án chính phủ và phi chính phủ.
c. Xúc tiến và hỗ trợ cộng đồng gây quỹ từ các tổ chức và doanh nghiệp trong nước thông qua các dự án.
d. Ngân sách dự án của các tổ chức thành viên ( thông qua dòng ngân sách cho các chuyên gia và tư vấn)

PHỤ LỤC 1: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG 5 NĂM CỦA CIFPEN (GIAI ĐOẠN 2011-2015)
   

Mục tiêu

Giải pháp và các hoạt động can thiệp

Nguồn lực

Mục tiêu 1: Thúc đẩy các hoạt động vận động chính sách dựa vào cộng đồng

 

1.1. Nâng cao năng lực thực hiện vận động chính sách dựa vào cộng đồng cho các tổ chức thành viên và hình thành nhóm chuyên gia về vận động chính sách.

 

Tập huấn và hội thảo về vận động chính sách dựa vào cộng đồng.

Đưa yêu cầu vận động chính sách vào các dự án của các tổ chức thành viên.

Đánh giá hoạt động vận động chính sách và các kết quả đã đạt được.

Hình thành nhóm chuyên gia hỗ trợ hoạt động vận động chính sách. Tập huấn và đưa và áp dụng " Sự tham gia của người dân, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình" trong các hoạt động phát triển địa phương.

Dự án IFSN (năm 1)

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

1.2 Thúc đẩy việc ban hành các tiêu chí về nông nghiệp bền vững và hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ

 

 

Hội thảo với các cơ quan chính phủ, bộ ngành liên quan về tiêu chí nông nghiệp bền vững.

Thúc đẩy việc nghiên cứu, ban hành các tiêu chí về nông nghiệp bền vững và nông  dân sản xuẩt  quy mô nhỏ.

Đánh giá tính khả thi và tác động của các tiêu chí nông nghiệp bền vững trong thực hành khuyến nông và phát triển nông nghiệp.

Chưa có kinh phí Chưa có kinh phí

1.3. Tư vấn, phản biện và thực hiện giám sát về tác động của tiêu chí phân loại nghèo mới của chính phủ và các chính sách hỗ trợ người nghèo.

 

 

Thực hiện nghiên cứu tác động và kết quả phân loại hộ nghèo theo tiêu chí mới (Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ).

Nghiên cứu và đánh giá các chính sách hỗ hợ hộ cận nghèo và mới thoát nghèo.

Hội thảo về giảm nghèo bền vững: "Bài học kinh nghiệm và những thách thức mới".

Hội thảo: Bài học kinh nghiệm và hiệu quả hỗ trợ giảm nghèo của các chương trình dự án chính phủ và phi chính phủ.

 

Chưa có kinh phí

 

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

1.4. Thúc đẩy việc giao quyền sử dụng đất ở những vùng nghèo.

 

 

Tập huấn về " Giao quyền sử dụng đất - Quyền và trách nhiệm"

Hỗ trợ các hoạt động " Đối thoại về quyền sử dụng đất" ở các vùng dự án của các tổ chức thành viên.

Đưa các tin bài về" Quyền sử dụng đất" trên các phương tiện thông tin và truyền thông.

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

1.5. Hỗ trợ việc hoàn thiện các chính sách phát triển sinh kế bền vững cho người dân tái định cư

 

Nghiên cứu và hội thảo " Dạy nghề cho nông dân - Hiệu quả và tác động sinh kế".

Nghiên cứu và hội thảo" Sinh kế bền vững cho người tái định cư do tác động của dự án thủy điện vừa và nhỏ"

Nghiên cứu và hội thảo:"Sinh kế bền vững cho người tái định cư do tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa"

Nghiên cứu và hội thảo" Nông nghiệp phi truyền thống và ngành nghề phi nông nghiệp với sinh kế người dân tái định cư"

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Dự án IFSN

 

Chưa có kinh phí

 

1.6. Cải thiện chính sách và cách tiếp cận trong việc hỗ trợ người nghèo, đặc biệt là thông qua các chương trình lớn của chính phủ.(Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chương trình 135-II, chương trình 30a...)

Nghiên cứu và hội thảo" Hiệu quả của các chính sách hỗ trợ người nghèo trong các chương trình của chính phủ".

Đưa các phân tích chính sách và tác động giảm nghèo lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Tọa đàm" Cơ hội và cơ chế tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong các chương trình giảm nghèo".

Nghiên cứu và hội thảo chia sẻ "Cơ chế hiệu quả cho thực hiện Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở” nhằm trao quyền cho người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số phát triển sinh kế bền vững.

Một phần dự án IFSN

 

1.7. Thúc đẩy các mô hình và chính sách bảo hiểm nông nghiệp, rủi ro sản xuất và rủi ro xã hội cho người nghèo, vùng nghèo.

 

Nghiên cứu và hội thảo " Các giải pháp và mô hình bảo hiểm nông nghiệp, rủi ro sản xuất và rủi ro xã hội cho người nghèo".

Thực hiện thí điểm một số mô hình bảo hiểm nông nghiệp và phòng tránh rủi ro trong vùng dự án của các tổ chức thành viên.

Tọa đàm " Thực trạng và hướng đi của bảo hiểm nông nghiệp và rủi ro sản xuất cho người nghèo và người sản xuất quy mô nhỏ"

 

Chưa có kinh phí

 

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

Mục tiêu 2: Hỗ trợ nông dân thực hiện các giải pháp canh tác nhằm  thích ứng và giảm thiểu biến đối khí hậu

 

2.1. Hỗ trợ nông dân thực hiện các giải pháp nông nghiệp nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu

Hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật Phát triển mô hình Khí sinh học quy mô hộ gia đình

Xây dựng bộ tài liệu truyền thông " Các giải pháp nông nghiệp bền vững, bảo vệ tài nguyên nông nghiệp và ứng phó với BĐKH"

Tổ chức các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi vì nền nông nghiệp bền vững và ứng phó thành công với BĐKH.

Hỗ trợ tập huấn và triển khai mô hình hộ nông dân và cụm dân cư ứng phó với BĐKH.

Nghiên cứu :" Các hành vi có thể thay đổi nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu từ hoạt động sản xuất và đời sống của nông dân".

Phát triển bếp đun cải tiến ĐK và biogas ở các vùng dự án của các tổ chức thành viên.

Xây dựng bộ tài liệu truyền thông" Nông dân thực hành giảm nhẹ biến đổi khí hậu"   

 

Dự án sẵn có của thành viên

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Dự án có sẵn của các thành viên

Chưa có kinh phí

2.2. Hỗ trợ nông dân và cộng đồng thực hiện các giải pháp nhằm thích ứng với BĐKH

Tập huấn “Các kỹ năng thực hành nhằm thích ứng với BĐKH tại quy mô gia đình và cộng đồng nhỏ”

Hỗ trợ xây dựng kế hoạch cho cộng đồng nhỏ và gia đình để ứng phó với BĐKH

Tổ chức diễn tập “Thực hành ứng phó với các tình huống cấp gây ra bởi BĐKH”

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

2.3.Tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên để vận động chính sách nhằm thay đổi để tạo sự chuẩn bị tốt hơn tại địa phương thích ứng với biến đổi khí hậu.

 

Xuất bản các tài liệu truyền thông về" Kỹ năng Thực hành ứng phó với biến đối khí hậu của cá nhân, gia đình và cộng đồng nhỏ" (tập hợp kết quả công việc trên mục tiêu này và tuyên truyền tới các tổ chức thành viên và phạm vi rộng rãi hơn)

Hội thảo chia sẻ kinh  nghiệm dựa trên công tác

Chưa có kinh phí

 

 

 

 

Chưa có kinh phí

Mục tiêu 3: Hỗ trợ các giải pháp nông nghiệp bền vững đối với nông dân sản xuất quy mô nhỏ

 

3.1. Thúc đẩy bảo tồn và phát triển các giống cây trồng và vật nuôi bản địa để bảo tồn đa dạng sinh học và sản xuất nông sản hàng hóa quy mô nhỏ.

Nghiên cứu và hội thảo " Sự tồn tại và khả năng duy trì các giống cây trồng vật nuôi bản địa ở hộ nông dân''.

Tập huấn" Các giải pháp hỗ trợ nông dân bảo tồn và phát triển các giống cây con bản địa"

Hội thảo" Giống cây trồng vật nuôi bản đại trong phát triển nông nghiệp và sinh kế bền vững quy mô hộ gia đình"

Xây dựng mô hình Sản xuất – Liên kết "  Giống cây trồng, vật nuôi bản địa và các nhà hàng đặc sản”

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

3.2. Hỗ trợ nông dân nghèo trong phát triển nông nghiệp phi truyền thống để tạo việc làm, đa dạng các hoạt động sinh kế.

 

Nghiên cứu và hội thảo, diễn đàn trực tuyến" Sinh kế cho lao động nông nhàn - Kết quả và khả năng nhân rộng".

 

Nghiên cứu và hội thảo, diễn đàn trực tuyến về nông nghiệp phi truyền thống - Kết quả và khả năng nhân rộng".

Xuất bản bộ tài liệu dạy nghề" Sinh kế cho lao động nông nhàn" và “Sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp cho nông dân có ít hoặc không có đất”

Áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp phi truyền thống trong các vùng dự án của các tổ chức thành viên.

Chưa có kinh phí

 

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

 

3.3. Liên kết nông dân sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ với thị trường và xúc tiến các hình thức tiêu thụ hàng hóa thông qua mối quan hệ với người buôn bán nhỏ và người trung gian.

 

Tập huấn" Các hình thức hợp tác nông dân với tư thương hướng tời thị trường".

Xây dựng mô hình" Nông dân và tư thương cùng lợi".

Thăm quan học hỏi và đánh giá các mô hình Chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường cho người nghèo

Chưa có kinh phí

 

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

3.4. Hỗ trợ sản xuất hữu cơ và nông nghiệp sạch

Các mô hình đã được thực hiện và tài liệu hóa

 

3.5. Trợ giúp nông dân thực hiện các biện pháp bảo tồn và tăng cường chất lượng đất đai

Các mô hình đã được thực hiện và tài liệu hóa

 

3.6. Tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên để vận động chính sách nhằm thay đổi để thúc đẩy  các giải pháp nông nghiệp bền vững tại địa phương

Xem mục 1, 2 và 4

 

Mục tiêu 4: Tăng cường Học hỏi có sự tham gia và chia sẻ kinh nghiệm

 

4.1. Nâng cao năng lực quản trị và phát triển các tổ chức thành viên (đối với những thành viên mới và ít kinh nghiệm)

 

Tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm cho lãnh đạo các tổ chức thành viên

Tập huấn về phát triển tổ chức, xây dựng và thực hiện chiến lược

Dự án với CHF

 

 

Dự án với CHF

4.2. Liên kết với các cơ quan, tổ chức và mạng lưới khác để thực hiện các hoạt động và công việc cụ thể để tạo ra giá trị thực tế trong vấn đề ANLT và giảm nghèo

 

Xem 4.3

 

4.3. Kết nối với các mạng lưới khác, cơ quan chính quyền và các NGO Việt nam để phát triển và hợp tác với họ, áp dụng bài học kinh nghiệm

 

Tổ chức các hội thảo chia sẻ hàng năm

Phát triển các hoạt động liên kết với các NGO quốc tế và những người quan tâm đến ANLT và giảm nghèo tại Việt Nam

Dự án IFSN

Dự án với VECO và những người đã tài trợ

4.4. Sử dụng website, quan hệ báo chí, tạp chí, liên kết với IFSN

 

Nâng cấp trang web của CIFPEN để trở thành một diễn đàn để trao đổi, học hỏi và nâng cao kiến thức

Phát triển quan hệ với báo chí, truyền thông

Xuất bản và phát hành tạp chí ”ANLT và giảm nghèo bên vững”

Tăng cường sự tham gia vào  các hoạt động của  Mạng ANLT quốc tế (IFSN) và các nước ASEAN

Dự án với CHF

 

Dự án của IFSN

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

 

4.5. Khám phá và ứng dụng những cách tiếp cận mới trong vấn đề ANLT và giảm nghèo

 

 

Tập huấn tiếp cận dựa trên quyềnTập huấn về cách tiếp cận theo chương trình và thực hành

Nghiên cứu và hội thảo “ Quyền của nông dân và người nghèo – Chính sách và thực tiễn”

Phát triển mô hình “Thực hành về Pháp lệnh dân chủ cơ sở”

Dự án của IFSN

Dự án của IFSN

Chưa có kinh phí

Chưa có kinh phí

Mục tiêu 5: Xây dựng  đội ngũ chuyên gia

 

Xây dựng  nhóm chuyên gia

Thành lập và đào tạo 3 nhóm chuyên gia chính về:

  • Tài nguyên thiên nhiên, Môi trường và Biến đổi khí hậu
  • Giới, Gia đình và Sức khỏe cộng đồng
  • Sinh kế bền vững và Tiếp cận thị trường

Tất cả các nhóm sẽ được đào tạo để ttrở thành Đội ngũ Giảng viên nguồn về các phương pháp Vận động có sự tham gia, Kỹ năng thực hiện Pháp lệnh Dân chủ cơ sở. 

Dự án với CHF

Mục tiêu 6: Tăng cường về tài chính cho CIFPEN và các thành viên

 

 

Tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm về gây quỹ và và quản lý tài chính

Dự án với CHF

PHỤ LỤC 2: BỐI CẢNH
1. Bối cảnh
Từ năm 2005 Mạng An ninh lương thực và giảm nghèo (CIFPEN) đã được thành lập nhằm tập hợp các Tổ chức xã hội dân sự Việt Nam đang hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan, nhằm giúp cộng đồng người nghèo khu vực nông thôn đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương mau chóng thoát nghèo và ổn định an ninh lương thực. Hợp tác và chia sẻ thông tin là những nhân tố then chốt trong hoạt động của Mạng CIFPEN. Bên cạnh những đóng góp một cách độc lập và tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo quốc gia, CIFPEN đã phát triển nhiều hoạt động hợp tác ban đầu hiệu quả và gắn kết các tổ chức thành viên trong việc thực hiện mục tiêu của Mạng CIFPEN là: Đưa tiếng nói và mối quan tâm của người nghèo tới các nhà hoạch định chính sách nhằm cải thiện các Chính sách liên quan, qua đó giảm nhẹ những khó khăn và cải thiện đời sống của họ.
Mạng đã thu được những thành công đáng khích lệnhằm đáp ứng mục tiêu của Mạng CIFPEN giai đoạn 2005-2010. Tuy nhiên, tất cả các vấn đề liên quan hầu như mới chỉ đạt được ở bước khởi đầu. Những thách thức và khó khăn của người nghèo đã được xác định trong quá trình hội nhập và phát triển trong thời gian qua sẽ tiếp tục là những khó khăn và thách thức lớn hơn trong thời gian tới khi mà thiên tai và dịch bệnh sẽ còn xuất hiện ngày một nhiều hơn và nguy hiểm hơn do tác động của biến đổi khí hậu, đe dọa nặng nề hơn đến sinh kế và an ninh lương thực của người nghèo. Vai trò và tác động của các tổ chức XHDS nói chung và của các tổ chức trong Mạng CIFPEN nói riêng cũng cần phải được xác định cụ thể, thông qua một định hướng chiến lược để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn tới.
1.1. Về vấn đề ANLT và giảm nghèo
Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế vào năm 1986, với định hướng chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường hội nhập đầy đủ với thể chế thương mại Thế giới. Việt Nam hội nhập bước đầu thông qua các Thoả thuận Thương mại Song Phương (BTA) với nhiều nước, trong đó, quan trọng nhất là Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (2001). Nó đã giúp tăng tốc quá trình Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế Khu vực và Toàn cầu. Các Hiệp định Thương mại Khu vực (AFTA – Khu vực Thương mại Tự do ASEAN, ACFTA – Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc,…) đã từng bước được ký kết và đưa đến sự gia nhập của Việt Nam với tư cách là thành viên thứ 150 vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đầu năm 2007. Là một thành viên của WTO, Việt Nam buộc phải sửa đổi những chính sách của mình trong lộ trình đàm phán để phù hợp với những nguyên tắc và quy định của WTO. Theo yêu cầu của WTO, hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị cắt giảm, các chính sách quốc gia được thay đổi. Điều này có thể sẽ không có lợi, thậm chí còn gây ra những tác động tiêu cực và khó khăn cho người nghèo, bởi họ là bộ phận dễ bị tác động tiêu cực, ít tiếp cận tới thông tin và  một hệ thống giáo dục tốt, ít cơ hội và kém năng lực hơn.
Trong quá trình cải cách này, an ninh lương thực luôn được chú trọng trong hệ thống chính sách quốc gia. Vì vậy, An Ninh Lương Thực ở cấp quốc gia đã được cải thiện một cách đáng kể. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Tuy nhiên, “An ninh lương thực không chỉ là vấn đề về nguồn cung đầy đủ, mà còn là vấn đề về nhu cầu hiệu quả & tính ổn định của nguồn cung và khả năng tiếp cận lương thực” (ActionAid). Nói cách khác, cần phải chú ý đến cả 2 yếu tố là tính sẵn có của lương thực, dinh dưỡng và tính có thể tiếp cận tới các nguồn tài nguyên sản xuất để kiếm lương thực. Qua khái niệm đó, rất nhiều người nghèo ở Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bất ổn lương thực và phải đối mặt với những nguy cơ như mất đất, xói mòn đất, thất nghiệp, thương mại không công bằng và nhiều nguy cơ khác nữa, mà trong đó, quyền của họ đối với lương thực, đối với các nguồn tài nguyên sản xuất đã và đang bị coi nhẹ.
Việt Nam hiện phải chịu đựng thương mại bất bình đẳng, được thể hiện qua hàng loạt các đơn khiếu nại chống bán phá giá không công bằng đối với một số sản phẩm của Việt Nam:
• Việt Nam gia nhập WTO trong bối cảnh các quốc gia thành viên giàu có nắm hầu hết quyền lực của Tổ chức này. Giống như rất nhiều các quốc gia đang phát triển khác, nền kinh tế bị coi là phi thị trường của Việt Nam đã đưa lại rất nhiều bất lợi cho quốc gia này trong các quy định về tranh chấp của WTO, bất chấp mức độ hướng tới thị trường mà nền kinh tế Việt Nam đã có được từ trước đến nay. Lý luận của Việt Nam rằng các sản phẩm của nước này không hề bị phá giá trên thị trường thế giới đã bị bỏ qua. Bên cạnh đó, là một nước đang phát triển, Việt Nam không có đủ những nguồn lực cần thiết để hưởng lợi từ những công cụ giải quyết tranh chấp trong WTO. Việt Nam đang phải gánh chịu những mức thuế chống bán phá giá được áp gần đây lên các sản phẩm của Việt Nam như cá da trơn, tôm, giầy dép... Điều này sẽ còn tiếp diễn, trừ phi những sự đối xử thiếu công bằng như vậy chấm dứt. Những nhân tố này làm cho Việt Nam trở nên dễ bị ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt là bộ phận người nghèo và khó khăn.
• Với cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khả năng tài chính eo hẹp và nguồn nhân lực hạn chế, các Quyền Sở hữu Trí tuệ của Việt Nam (IPRs) không được giải quyết thoả đáng. Điều này tác động đến người nghèo nhiều nhất vì họ không đủ khả năng đăng ký độc quyền các sản phẩm của họ, và vì vậy, không thể bảo vệ quyền lợi đối với các sản phẩm của chính họ.
• Các chính sách thu hút vốn Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài hấp dẫn với rất nhiều ưu đãi dành cho các Nhà Đầu tư Nước ngoài luôn được quốc gia Việt Nam coi trọng tới một mức độ nhất định. Tuy nhiên, chừng nào các nhân tố thân thiện với người nghèo chưa được kết hợp trong những chính sách hậu thuẫn doanh nghiệp, người nghèo vẫn còn nằm trong tình trạng khó khăn. Các công ty đa quốc gia (TNCs) đã tham gia vào làn sóng FDI và tạo nên những nguy cơ tiềm tàng cho các nhà sản xuất nhỏ cũng như người nghèo, những người ở vào vị trí dễ bị tác động tiêu cực trong cuộc cạnh tranh. Như đã nhìn thấy trước từ thực tế của các quốc gia khác, các Công ty đa quốc gia có thể sử dụng sức mạnh kinh tế để có được những sự hậu đãi nhất từ Chính phủ, chi phối thị trường, không tôn trọng nghĩa vụ xã hội của họ, từng bước làm giảm sức cạnh tranh của các nhà sản xuất nhỏ, và làm cho người tiêu dùng cũng như các nhà cung cấp đầu vào phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động kinh doanh của họ. Ngoài ra, các Công ty Đa quốc gia còn vi phạm các chính sách bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học tại nhiều quốc gia khác. Và điều đó cũng đã và đang xảy ra tại Việt Nam. Trong khi khung khổ pháp lý được điều chỉnh và phát triển, bộ luật chưa hoàn thiện của Việt Nam, tự nó và những sự thi hành nó, có lẽ sẽ ảnh hưởng xấu đến bộ phận người nghèo và nhóm người dễ bị tổn thương.
• Mở cửa nền kinh tế cũng gia tăng áp lực lên các vấn đề về đất đai, trong đó, tái cơ cấu việc sử dụng đất đã và đang gây ra tranh chấp giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của những người sử dụng đất. Ở cấp độ Chính sách, bản thân các Chính sách trong vấn đề về đất đai là không toàn diện, và không bao hàm đầy đủ tất cả những vấn đề thực tế có liên quan tới đời sống của người nghèo. Việc thăm dò ý kiến của người nghèo không được thực hiện một cách đúng đắn trong mối tương quan với các mục tiêu kinh tế xã hội tổng thể. Quá trình tái cơ cấu việc sử dụng đất không áp dụng đầy đủ các quy định hiện hành. Hệ quả là điều này làm tăng thêm gánh nặng cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Với sự phát triển nhanh chóng trong suốt những thập niên vừa qua, quốc gia Việt Nam đã đặt Công nghiệp hóa & Đô thị hóa lên trên Nông nghiệp.
• Theo những số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, trong giai đoạn 2001-2005, có đến 366,000 hecta đất nông nghiệp đã bị chuyển đổi sang sản xuất phi nông nghiệp, chiếm 3.9% tổng diện tích đất nông nghiệp. Tới năm 2025, các nhà nghiên cứu dự đoán rằng 10-15% diện tích đất nông nghiệp sẽ được sử dụng cho mục đích phát triển Công nghiệp. Tại nhiều tỉnh thành, các chính quyền địa phương không có cái nhìn đi sâu vào việc phát triển lương thực và nông nghiệp, đánh đổi An ninh lương thực với việc phát triển công nghiệp không đem lại hiệu quả. Xung đột này đã làm lãng phí đất đai, dẫn đến những tổn thất lớn về tài nguyên đất và sinh kế của người nghèo và nông dân. Thiếu phương cách sinh nhai, thiếu các nguồn tài nguyên sản xuất, thiếu kiến thức về việc sử dụng đất, thiếu sự đền bù một cách thoả đáng và hợp lý về việc mất đất, chưa có các chính sách hỗ trợ về tài chính,…người dân đang phải sống trong tình trạng rất khó khăn. An ninh lương thực của họ đang bị đe doạ. Trong vòng 5 năm trở lại đây, mất đất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến cuộc sống của hơn 2,5 triệu người.
Với dân số hơn 85 triệu người và 73% trong số đó sống tại các khu vực nông thôn, Việt Nam được xếp hạng là một trong những nước có tỷ lệ đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất trên thế giới. Các thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh và tác động của thay đổi khí hậu đang đe doạ nền nông nghiệp của Việt Nam.
1.2. Các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực ANLT và giảm nghèo
Các tổ chức xã hội dân sự (CSOs) ở Việt Nam đã và đang được hình thành trong suốt gần 2 thập niên vừa qua. Các tổ chức này trở thành những nhà hoạt động then chốt trên phương diện dân chủ hoá. Người dân thường cho rằng các CSOs hoạt động hiệu quả hơn các cơ quan chức năng của Chính phủ. Họ chứng minh được tầm quan trọng của mình trong vai trò hỗ trợ và thúc đẩy sự cải thiện đời sống của đại bộ phận dân nghèo. Tuy nhiên, hầu hết các CSOs đang áp dụng cách tiếp cận cung cấp dịch vụ, một số hoạt động dựa vào nhà tài trợ và do đó, sự cam kết của các tổ chức này đối với việc tác động vào các chính sách còn hạn chế. Mặc dù, không nghi ngờ rằng các chuyên gia kỹ thuật cung cấp bởi các CSO góp phần cải thiện cuộc sống của người nghèo, nhưng rõ ràng, khả năng của họ trong việc hỗ trợ, kết nối mạng CIFPEN và cách tiếp cận dựa vào quyền lợi của người nghèo vẫn còn hạn chế. Vì vậy, vai trò của họ trong việc tăng cường sức mạnh cho người nghèo và những người dễ bị ảnh hưởng, tác động xấu để bảo đảm An ninh lương thực cần phải được củng cố.
1.3. Mạng CIFPEN trưởng thành và phát triển
Năm 2005, được tài trợ bởi EC thông qua tổ chức Action Aid làm cơ quan quản lý và CARE quốc tế, Nhóm các tổ chức Xã hội dân sự vì An ninh Lương thực và Giảm nghèo (CIFPEN) được thành lập dựa trên nền tảng của một nhóm công tác bao gồm các Tổ chức phi chính phủ của Việt Nam (VNGOs) ) đứng đầu là CISDOMA. Các thành viên của CIFPEN hoạt động trong các lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, sức khoẻ, giáo dục và bảo tồn. Hợp tác, cộng tác qua lại và chia sẻ thông tin là những nhân tố then chốt trong hoạt động của CIFPEN. Bên cạnh những đóng góp tích cực xoá đói giảm nghèo một cách độc lập vào công cuộc này của quốc gia, CIFPEN đã phát triển nhiều hoạt động hợp tác ban đầu hiệu quả giữa các tổ chức thành viên.
Mạng CIFPEN là mạng duy nhất của các CSOs trong nước hoạt động trên lĩnh vực An ninh lương thực và giảm nghèo tại Việt Nam. CIFPEN và các thành viên của mình đã thành công trong việc thực hiện nhiều hoạt động ở cả cấp cộng đồng và quốc gia, xây dựng năng lực cho các thành viên CIFPEN và nhiều tổ chức khác, liên kết các hoạt động liên quan đến vận động chính sách theo hướng có lợi cho người nghèo. Năng lực của mạng CIFPEN cũng như của các thành viên đã được tăng cường từ nguồn lực ban đầu của 28 tổ chức thành viên năm 2005, đến nay (2010) đã có 45 tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực phát triển nông thôn, nông nghiệp và lâm nghiệp, sức khoẻ, giáo dục, y tế  và các vấn đề liên quan tới quyền của phụ nữ.
Việc thành lập CIFPEN đã tạo ra một diễn đàn kết nối các CSO cùng quan tâm đến An ninh lương thực và Xoá đói giảm nghèo nhằm có được những hành động chung để cùng nỗ lực chống lại đói nghèo. Trong 5 năm qua, CIFPEN đã thu được nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy phương thức làm việc cộng tác với năng lực hỗ trợ ngày càng được phát triển về cả lý thuyết và thực tế. CIFPEN đã và đang nêu cao vai trò đại diên cho những người nghèo để:
• Tham gia vào các cuộc đối thoại chính sách trong quá trình hình thành Cơ cấu quản trị của Chương trình Phát triển Kinh tế Xã hội,
• Nêu lên những mối quan tâm về nhu cầu bảo quản hạt giống trong nước, phát triển phân bón sinh học và các mô hình sản xuất quy mô nhỏ thông qua các nghiên cứu tích cực kết hợp với một số mô hình thí điểm,
• Huy động người dân tham gia vào việc thực hiện cơ chế dân chủ tập thể trong việc tìm kiếm nguồn lực tài chính, hình thành và thực thi các chính sách về An ninh lương thực, và
• Tạo điều kiện liên kết cộng đồng để hỗ trợ lẫn nhau và để có một tiếng nói chung lên tới Chính quyền các cấp. CIFPEN đã tập trung vào những vấn đề mấu chốt như đất đai, tác động của việc gia nhập WTO.
Hoạt động của CIFPEN được đánh giá là có hiệu quả , đã tạo ra nền tảng cho các tổ chức Xã hội dân sự và các mạng khác tham gia vào đối thoại chính sách với Chính phủ và các nhà tài trợ trong công cuộc phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là các vấn đề có liên quan tới An ninh lương thực. Sự thành lập và hoạt động của mạng CIFPEN này cũng đã khởi đầu thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức Xã hội dân sự vào nền dân chủ và sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên như đã thấy, các hoạt động liên quan cần phải được tăng cường để đóng góp tích cực và mạnh mẽ hơn vào các Chương trình mục tiêu quốc gia trong thời gian tới.
1.4. Mạng CIFPEN: Thách thức và mục tiêu hướng tới năm 2015
• Năng lực không đồng đều của các đơn vị thành viên và khả năng kết nối mạng CIFPEN hạn chế
• Thiếu một đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan đủ mạnh để tham gia vào các hoạt động cung cấp dịch vụ cho các Chương trình, Dự án phát triển của Quốc gia;
• Kỹ năng gây quỹ để thực hiện các hoạt động theo các mục tiêu của các đơn vị thành viên hạn chế và không đồng đều
• Kỹ năng phát triển sinh kế, lập kế hoạch phát triển thôn bản có sự tham gia và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở còn hạn chế;
• Thiếu khả năng huy động nguồn lực tài chính để thúc đẩy các hoạt động Vận động chính sách liên quan đến sinh kế bền vững của người nghèo;


Bình luận 0 Bình luận

Video Xem thêm